Chương 11: Bến ghe Mỹ Tho

Trời chưa hửng hẳn mà mặt sông Mỹ Tho đã loang một màu bạc đục, sương mỏng la đà trên ngọn sóng. Chiếc ghe bầu chở lúa của chú Bảy lừ đừ áp vào bến, mạn ghe cọ vào cầu ván kêu lên kẽo kẹt. Phan Cường ngồi thu lu sau những bao lúa, lúc này mới được chú Bảy hất hàm cho ngóc đầu dậy. — Tới rồi đó cậu hai. Chợ Mỹ Tho. Bữa nay chú không xuống Chợ Lớn liền, ghé bán bớt mớ lúa rồi mới đi tiếp. Cậu có muốn theo nữa thì chờ ba bữa, còn không thì... liệu đường mà tính. Cường vịn vào mạn ghe trồi người lên. Cái lưng mỏi nhừ vì mấy ngày co ro dưới khoang, vậy mà vừa ngẩng đầu, chàng đã quên béng cơn ê ẩm. Trời đất quỷ thần ơi — chàng chưa từng thấy chỗ nào đông như vầy. Bến sông trải dài tới khuất tầm mắt, ghe nối ghe, mui lá san sát như một cái chợ nổi trên nước. Người gánh, người gồng, kẻ đội thúng, kẻ vác bao chạy rầm rập trên cầu ván dập dềnh. Tiếng rao bán, tiếng mặc cả, tiếng chửi rủa, tiếng cười nói lẫn vào nhau ồn như vỡ chợ. Mùi mắm muối, mùi lúa mới, mùi bùn sông, mùi khói bếp từ mấy quán cơm lá ven bờ — tất cả quyện lại thành một thứ hơi thở đặc quánh của đất khách. Cái làng Rạch Giá của chàng, cái chợ quê họp sáng đầu làng với dăm ba sạp rau cá, so với chỗ này chỉ như một góc sân nhỏ. — Cha chả... — Cường lẩm bẩm, miệng há ra mà mắt thì láo liên không kịp nhìn cho hết. Chú Bảy nhổ toẹt bã trầu xuống sông, cười khà: — Lần đầu lên tỉnh hả? Coi cái mặt là biết liền. Nè, đất này không phải đất quê đâu nghen. Miệng lưỡi giữ cho kỹ, tiền bạc giấu cho sâu, ai hỏi gốc gác thì cứ ậm ờ. Người tốt cũng nhiều mà quân lừa đảo, đâm thuê chém mướn cũng đặc đường. Cậu khỏe mạnh, lanh lẹ, nhưng khỏe mấy mà dại thì cũng có ngày bỏ xác bến sông. Cường gật lia lịa, dạ ran. Chú Bảy móc trong cạp quần ra mấy đồng cắc lẻ, dúi vào tay chàng. — Chú có nhiêu đây à. Cầm đỡ mà ăn cơm. Cậu trốn cái án trên người, chú biết, chú không hỏi. Nhưng đời chú lăn lộn bến sông mấy chục năm, chú nói cậu nghe — kẻ có khí phách như cậu, không chết đói đâu. Ráng lên. Cổ họng Cường nghẹn lại. Mấy ngày qua chàng cứ tưởng mình đã cạn nước mắt từ cái đêm rời bến quê. Vậy mà nghe lời chú lái buôn xa lạ, lòng lại chực vỡ. Chàng cúi rạp người: — Con đội ơn chú. Ơn này con khắc cốt. Mai mốt con làm nên, nhứt định con trả. — Trả chi mà trả. — Chú Bảy phẩy tay. — Đi đi. Còn trẻ, đường còn dài. Cường nhảy phóc lên cầu ván. Tấm ván chao nghiêng dưới chân làm chàng loạng choạng, suýt ngã chúi vào một bà gánh cá. Bà ta trợn mắt chửi xa xả mấy câu chàng nghe không kịp hiểu, rồi gánh hàng đi mất. Cường gãi đầu cười trừ, lủi thủi men theo bờ bến. Trong túi áo bà ba đen, mấy đồng cắc của chú Bảy lạnh ngắt, nhẹ tênh. Bên hông, con dao găm cán sừng của cha được chàng giắt kỹ trong lớp vải, ép sát da thịt. Mỗi lần cảm cái cứng cáp của nó, lòng chàng lại vững thêm một chút. "Cha à," chàng thầm nghĩ, "con tới đất lạ rồi. Con phải sống. Con phải làm nên cái gì đó mới về đón má, đón Sương được." Bụng đói cồn cào nhắc chàng rằng trước khi mơ tới chuyện làm nên, phải kiếm cái bỏ vô miệng cái đã. Mấy đồng cắc lẻ kia, ăn dè cũng chỉ được đôi ba bữa. Cường nghiến răng. Không thể ngồi ăn không. Phải kiếm việc. Chàng đảo mắt một vòng. Trên bến, đám phu khuân vác — dân ở đây gọi là cu-li — cởi trần trùng trục, vai chai sần, vác những bao gạo to đùng từ khoang ghe lên bờ, đổ vào kho. Mồ hôi nhễ nhại, da đen bóng. Có người vác một lúc hai bao, đi phăng phăng. Cường nhìn mà bụng nhủ thầm: cái này thì mình làm được. Sức vóc luyện võ mấy năm trời ở lò thầy Tư Đỗ chẳng lẽ thua đám này. Chàng lân la lại gần một người đàn ông trạc bốn mươi, da rám nắng, mặc áo bà ba nâu bạc phếch, một con mắt hơi lé, đeo cái túi vải lủng lẳng bên hông đầy tiếng leng keng. Người này đứng chỉ trỏ, quát tháo đám phu — ra dáng cai bến. — Chú ơi, — Cường khoanh tay lễ phép, — con mới tới, muốn kiếm việc vác mướn. Chú cho con làm với được hông chú? Người đàn ông lé liếc chàng từ đầu tới chân, ánh mắt nửa dò xét nửa khinh khỉnh. — Mày ở đâu tới? Coi cái mặt non choẹt. — Dạ con ở dưới quê. Quê con xa. — Cường ậm ờ y như lời chú Bảy dặn. — Hừm. Cu-li ở bến này tao mướn đủ rồi. — Tư Lé — đó là tên người cai — chép miệng. — Thêm một miệng ăn chia phần à? Thôi đi chỗ khác. Cường không nản. Chàng đảo mắt thấy gần đó một bao gạo to nằm chỏng chơ, hai người phu đang loay hoay khiêng mãi không lên. Chàng bước tới, chẳng nói chẳng rằng, ghì lưng xuống, hai tay luồn dưới bao, hét một tiếng "Dô!" rồi xốc bao gạo lên vai gọn ơ, đi băng băng lên cầu ván, đặt phịch vào đúng chỗ trong kho, nhẹ tênh như thể vác một bó rạ. Cả đám phu há hốc. Tư Lé nhướng con mắt lành lên, con mắt lé thì vẫn lé. — Ờ... — gã gãi cằm. — Coi bộ cũng có gân cốt. — Chú cho con làm thử bữa nay. — Cường phủi tay, cười cầu tài. — Con vác bằng hai người. Hổng được thì chú đuổi con, con hổng lấy công. Cái câu "hổng lấy công" làm con mắt lé của Tư Lé sáng rỡ hẳn. Gã nhổ bã thuốc, hất hàm: — Ừ. Làm đi. Vác hết đám gạo dưới ghe kia lên kho cho tao. Xong tao tính. Vậy là Cường nhập cuộc. Chàng cởi phăng áo, lộ tấm lưng rắn chắc, da bánh mật bóng lên dưới nắng sớm vừa rạng. Đám phu cu-li ban đầu liếc xéo thằng nhỏ mới tới làm bộ làm tịch, nhưng chỉ một lúc thì mắt tròn mắt dẹt. Cái thằng ranh con này vác như trâu, mà lại nhanh nhẹn, gọn ghẽ. Người ta vác một bao è cổ, nó vác một bao mà bước chân vẫn vững như đi dạo, có lúc còn vác luôn hai bao chồng lên nhau, miệng huýt sáo véo von. — Cha mày, ở đâu ra cái thằng khỏe dữ vầy? — Một anh phu lớn tuổi, ngực xăm trổ, vừa quệt mồ hôi vừa hỏi. — Dạ con luyện võ ở quê. — Cường cười toe. — Vác gạo nhằm nhò gì, hồi xưa con khiêng cối đá. — Khiêng cối đá? — Cả đám phá lên cười. — Thằng này nói dóc số một! Cường cười theo. Nhưng trong bụng chàng đang căng tai vểnh mắt mà học. Học cách đám cu-li nói chuyện, cách họ chia phiên, cách họ luồn lách với cai bến, cách thằng này thằng kia kèn cựa nhau từng bao gạo để được tính thêm công. Học cách Tư Lé ăn chặn — chàng để ý thấy gã ghi sổ một đằng, phát tiền một nẻo, cứ bớt xén của mỗi người vài xu. Đám phu biết mà không dám hó hé, vì miếng cơm nằm trong tay gã cai. "Té ra đất tỉnh là vầy," Cường nghĩ thầm khi vác bao gạo thứ mấy chục lên vai. "Ở đâu cũng có kẻ mạnh đè kẻ yếu. Quê mình thì Hương quản với Bảy Cồ đè đầu tá điền. Lên đây thì cai bến ăn chặn phu cu-li. Khác cái áo, khác cái giọng, chớ cái lòng tham thì giống y." Tới gần trưa, đám gạo dưới ghe đã sạch khoang. Cường mồ hôi ướt đẫm, bụng đói meo, nhưng người vẫn còn sung. Tư Lé đếm tiền công, cố tình bớt của chàng vài xu y như bớt của mọi người, đưa cho chàng một nhúm cắc. Cường cầm lấy, không phàn nàn. Chàng biết, mới chân ướt chân ráo, chưa phải lúc làm căng. Nhịn được thì nhịn. Chàng chỉ cười: — Cảm ơn chú. Mai con tới làm nữa nghen. Tư Lé khoái cái thằng vừa khỏe vừa biết điều, gật gù: — Ừ. Sáng mơi cứ ra sớm. Cầm nhúm tiền công đầu tiên kiếm được nơi đất khách, Cường ghé một quán cơm lá lợp ven bến. Bà chủ quán bới cho chàng một tô cơm đầy có ngọn, chan nước cá kho, thêm mấy con tép rang. Cường ăn ngấu nghiến, ngon chưa từng thấy. Cơm này chàng đổi bằng mồ hôi của chính mình nơi xứ lạ, không phải cơm má bới, không phải nắm cơm khô Sương dúi. Vừa ăn, sống mũi chàng vừa cay cay. Nhớ má. Nhớ Sương. Nhớ cái bếp đất sau hè, nhớ con kênh đầu làng có vườn dừa xào xạc, nhớ câu hát "ví dầu cầu ván đóng đinh" của Sương ngân trong đêm trăng... Chàng lắc đầu, gạt nước mắt, lùa nốt miếng cơm cuối. Không được mềm lòng. Con đường còn dài. Ăn xong, Cường thả bộ men theo bến, ngắm cái nhịp sống đất khách đang lên cao điểm buổi trưa. Chợ Mỹ Tho lúc này náo nhiệt tới chóng mặt. Có cả mấy ông Tây mặc đồ trắng, đội mũ cối, đi xe kéo tay ngang qua, đám phu cúi đầu né dạt. Có mấy chú khách trú — người Hoa — bụng phệ, áo lụa bóng, ngồi trên ghe lớn chỉ trỏ sai khiến. Có những cô gái áo bà ba gánh hàng bông, má ửng hồng, liếc chàng trai lạ vai rộng da bánh mật một cái rồi cười khúc khích che nón. Cường vốn đào hoa, gặp ánh mắt con gái thì máu lém lỉnh lại trỗi, chàng nhếch mép cười đáp lại, làm mấy cô đỏ mặt rảo bước nhanh hơn. — Cô em à, đời này gặp nhau là duyên... — chàng lẩm bẩm theo thói quen, rồi tự bật cười cho cái tật của mình. Nhưng chàng chưa kịp vui lâu thì phía cuối bến bỗng vang lên tiếng cãi vã ầm ĩ. Cường dỏng tai, men lại gần. Bên một chiếc ghe gạo lớn, đám phu cu-li — trong đó có mấy người sáng nay làm chung với chàng — đang vây quanh một ông chủ ghe người Hoa bụng phệ, mặc áo lụa màu mỡ gà. Ông ta tên Chệt Múi, là chủ ghe gạo có tiếng ở bến này, ai cũng biết mặt. Đám phu hò hét, chỉ tay, mặt đỏ gay: — Chú Múi quỵt công tụi tui! Nói trả mười cắc một chuyến, vác xong giờ chú đưa có sáu cắc là sao? — Tụi tui vác từ sáng tới giờ, mồ hôi mồ kê, chú ăn chặn vầy ai mà sống! Chệt Múi xua tay, cái mặt phính lên đầy vẻ khinh thường, chêm tiếng Quảng lẫn tiếng Việt lơ lớ: — Hầy! Lúi gì lúi! Ngộ nói sáu cắc là sáu cắc. Tụi mày vác chậm, làm bể mấy bao, ngộ trừ tiền. Hổng chịu thì lần sau ngộ hổng mướn nữa, đi chỗ khác lể! Đám phu càng nghe càng tức. Một anh phu trẻ, máu nóng, xông tới túm áo lụa của Chệt Múi: — Mày khinh người quá đáng! Tao đập cho mày một trận coi mày còn quỵt nữa hông! Chệt Múi tái mặt nhưng vẫn ngoác miệng kêu cứu: — Bớ người ta! Cu-li nó đánh người! Bớ mã tà! Tình thế căng như dây đàn. Mấy gã tay chân lực lưỡng trên ghe Chệt Múi nhảy xuống, lăm le binh chủ. Đám cu-li cũng không vừa, kẻ vớ đòn gánh, người nắm cây sào. Một cuộc ẩu đả sắp nổ ra ngay giữa bến. Cường đứng ngoài, lòng sôi lên. Cái máu trượng nghĩa từ thuở ở quê lại dâng. Chàng ghét nhất là cảnh kẻ mạnh hiếp kẻ yếu, kẻ có tiền đè người nghèo. Đám cu-li kia sáng nay làm chung với chàng, vác gạo gãy lưng, vậy mà bị quỵt công. Chân chàng đã nhấc lên, định lao vào can — không, định bênh đám phu một phen cho ra lẽ. Nắm tay chàng đã siết lại. Nhưng ngay khoảnh khắc ấy, một cảm giác lạ chạy dọc sống lưng làm Cường khựng lại. Như có một luồng mắt đang ghim chặt vào người chàng. Cường quay phắt đầu. Cách đó một quãng, dưới bóng một cây me già bên mép bến, có một người đàn ông trung niên đứng lặng. Người ấy trạc bốn mươi lăm, dáng không cao lớn nhưng chắc nịch như một khúc gỗ lim, vai vuông, hai cánh tay buông hờ mà gân cốt cuồn cuộn ẩn dưới làn áo vải nâu. Râu lốm đốm bạc tỉa gọn. Nhưng đáng nói nhất là đôi mắt — sắc lẹm, tĩnh tại, nhìn thẳng vào Cường mà như đo lường, như xét nét, như đã thấy hết từng thớ thịt, từng đường gân trên người chàng chỉ trong một cái liếc. Người đó không thèm để ý tới đám đông đang gây gổ ồn ào. Cả ánh nhìn chỉ dồn vào một mình Cường. Cường thấy gáy mình gai gai. Chàng tập võ mấy năm, đủ nhạy để biết: người đứng dưới gốc me kia không phải dân thường. Cái cách người ấy đứng — trọng tâm thấp, hai chân hơi mở, tựa như một cây cổ thụ bám rễ — là tấn pháp của kẻ luyện võ lâu năm. Một bậc thầy. Trong một thoáng, hai ánh mắt chạm nhau giữa cái bến ghe ồn ào loạn lạc. Người đàn ông khẽ nhếch một bên khóe miệng, không hẳn là cười, rồi gật đầu một cái rất nhẹ về phía chàng — như thể đã nhìn thấu cái ý định lao vào can đám đánh nhau của Cường, và đang ngầm chờ xem chàng sẽ làm gì. Phía sau lưng chàng, tiếng quát tháo, tiếng đòn gánh va đập đã bắt đầu loảng xoảng. Có tiếng người ngã. Có tiếng Chệt Múi rống lên the thé. Có tiếng còi mã tà rúc lên đâu đó cuối bến đang chạy tới. Cường nắm chặt tay, lòng giằng co. Bước vào thì rước họa vào thân, lại lộ mặt giữa đám đông khi chàng đang là kẻ trốn án. Mà đứng ngoài thì cái máu nghĩa khí không cho phép. Và đôi mắt sắc lẹm dưới gốc me già kia vẫn đang nhìn chàng, chờ đợi...

Bình luận (0)

Đăng nhập để bình luận.

  • Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!