Tiếng còi mã tà rúc lên the thé, mỗi lúc một gần. Cường nuốt khan, gân tay đã căng cứng định lao vào nhưng cái đầu lạnh hơn cái máu nóng đã kịp kéo chàng lại. Một bước, hai bước, chàng lùi vào sau dãy bồ lúa chất cao, lẫn vào đám phu đang dạt ra né đòn. Chệt Múi vẫn rống lên the thé, đám cu-li giơ đòn gánh hằm hè, nhưng khi hai tên mã tà mặc áo cụt, đội nón chóp chạy tới, tất cả khựng lại như gà mắc tóc.
Cường cúi đầu, xốc bao gạo lên vai như chẳng có chuyện gì, lặng lẽ trà trộn vào dòng người tản ra hai phía. Tim chàng đập thình thịch. Chàng là kẻ mang án trốn chạy, đụng mặt mã tà lúc này khác nào tự dẫn xác vào tròng. Khi ngoái nhìn lại gốc me già, người đàn ông trung niên có đôi mắt sắc lẹm đã không còn ở đó nữa. Chỉ còn bóng cây lay động trong gió sớm.
"Khôn đó, nhỏ." Một giọng khàn cất lên bên cạnh. Cường giật mình quay qua, thấy một người đàn ông trạc ba mươi mấy tuổi, mặt hiền, bàn tay phải cụt mất một ngón. "Đám đó mà dính vô, mã tà nó hốt cả lũ về bót, đánh cho thừa sống thiếu chết rồi mới thả. Mày mới tới phải hông?"
"Dạ, con mới lên." Cường gãi đầu, hạ bao gạo xuống. "Anh kêu con là Cường được rồi."
"Tao Hai Cụt." Người đàn ông xòe bàn tay cụt ngón ra cười khà. "Cụt từ hồi kẹt tay vô bánh ghe, người ta kêu riết thành tên. Thôi, lại đằng kia phụ tao khiêng mấy thúng cá, xong tao chỉ chỗ ăn cơm rẻ."
Vậy là Cường có người quen đầu tiên ở đất Mỹ Tho.
*
Mấy ngày sau đó, Cường bám riết lấy bến ghe. Sáng tinh mơ, khi sương còn giăng mờ trên mặt nước đục ngầu, chàng đã có mặt ở cầu ván, đợi ghe bầu cập bến để vác gạo, khiêng mắm, gánh cá thuê. Sức vóc hơn người của chàng làm cánh phu khuân vác nể mặt. Một bao gạo trăm cân người ta phải hai kẻ xốc, Cường ghé vai một cái là đứng phắt dậy, đi băng băng qua cầu ván dập dềnh mà chân không chao đảo. Tư Lé cai bến nhìn chàng làm, gật gù bỏ thêm cho chàng vài cắc tiền công mỗi bận.
"Thằng nhỏ này được." Tư Lé nhai trầu, phun nước cốt đỏ lòm xuống bến. "Khỏe như trâu mà siêng. Ở lại đây làm với tao, đừng có theo đám trộm cắp ngoài kia."
Cơm chàng ăn ở quán bà Sáu Mắm, một bà già ngoài năm mươi tuổi, lưng đã hơi còng, ngồi bán mắm với rau cá nơi góc chợ sát mé sông. Bà goá chồng, nuôi đứa cháu nhỏ mới lên bảy, chồng chết sông chết nước từ lâu. Thấy Cường ăn khỏe mà túi rỗng, bà hay lén bới thêm cho chàng chén cơm, múc thêm vá canh, miệng càu nhàu mà tay thì rộng rãi.
"Ăn đi con, trai tráng mà ốm nhom vầy coi sao đặng. Bây ở đâu lên đây mà thân cô thế cô vậy?"
"Dạ con dưới quê lên kiếm cơm." Cường cười hiền, không dám nói thật. "Bà cho con thiếu bữa nay, mai con vác gạo có tiền con trả."
"Thôi khỏi, mấy đồng cơm chứ mấy. Tao thấy bây hiền, lại biết điều, là tao quý rồi." Bà Sáu xua tay, đôi mắt nhăn nheo ánh lên cái nhìn từ ái như nhìn con cháu trong nhà.
Cái tình của người dưng nơi đất khách làm lòng Cường ấm lại. Ăn miếng cơm bà Sáu, chàng lại nhớ tới mẹ ở quê, nhớ tô cháo loãng mẹ nấu, nhớ dáng bà ngồi bên bếp lửa lo cho con từng bữa. Đêm nào nhắm mắt, hình bóng mẹ già và Thị Sương đứng tiễn dưới làn sương bến ghe lại hiện về, kéo theo cái thềm đá lạnh ngắt và tiếng đầu người va xuống mà chàng không sao quên được. Án mạng treo lơ lửng trên đầu như đám mây đen, đi tới đâu cũng bám theo tới đó.
*
Buổi sáng hôm ấy chợ đang đông, một bóng người vạm vỡ, mặt rỗ chằng chịt, xăm trổ đầy hai cánh tay, nghênh ngang đi vào khu bán hàng. Đám tiểu thương vừa thấy là cúi mặt né tránh, mấy bà bán rau lật đật dúi tiền vào tay hắn. Hai Cụt đứng cạnh Cường, ghé tai nói nhỏ:
"Tư Kèo đó. Du côn khu này, đi thu tiền bảo kê. Phe nó có máu mặt, dính vô là mệt. Mày tránh xa ra."
Cường nhíu mày nhìn theo. Tư Kèo đi tới sạp bà Sáu Mắm, đứng dạng chân, gõ gõ ngón tay lên cái thúng mắm.
"Bà già, tiền tháng này đâu? Bữa nay tới hạn rồi nghen."
"Cậu Tư ơi, tháng này buôn bán ế quá..." Bà Sáu chắp tay, giọng run run. "Thằng cháu tôi đau, tôi phải mua thuốc, cậu thư cho tôi ít bữa..."
"Ế hả? Thư hả?" Tư Kèo cười nhạt, bất thần hất đổ cái thúng mắm. Nước mắm với cá ụp xuống nền chợ, tanh nồng. Bà Sáu hốt hoảng nhào tới hốt, hắn lại đạp một cái cho văng tung tóe. "Không có tiền thì dẹp! Cái chỗ này tao cho mướn chứ của bà chắc? Lần sau không có là tao đốt sạp luôn, nghe chưa con mẹ già!"
Bà Sáu té ngồi bệt xuống đất, hai tay quờ quạng vớt mấy con cá lấm lem, nước mắt giàn giụa. Đám đông xúm lại nhưng chẳng ai dám hé răng.
Máu trong người Cường sôi lên. Cái cảnh kẻ mạnh đè kẻ yếu này, chàng đã thấy quá nhiều ở quê — Bảy Cồ đè đầu cưỡi cổ tá điền, cậu Ba Tỏi cậy thế hiếp người. Tay chàng đã nắm chặt từ lúc nào. Hai Cụt níu áo chàng giật giật:
"Cường! Đừng! Mày..."
Nhưng đã muộn. Cường bước tới, đỡ bà Sáu dậy, giọng vẫn ôn tồn mà ánh mắt đã sắc lại:
"Cậu là đàn ông, đi ăn hiếp một bà già goá bụa, coi có được hông cậu Tư?"
Tư Kèo quay phắt lại, trợn mắt nhìn gã trai lạ. "Mày là thằng nào? Ở đâu chui ra mà dám xía vô chuyện của tao?"
"Con là đứa ăn cơm bà Sáu mấy bữa nay." Cường khẽ đẩy bà Sáu ra phía sau lưng mình. "Cậu lấy tiền người ta thì cũng vừa phải thôi. Đổ mắm, đạp cá, làm bà già té như vậy, trời đất quỷ thần coi cũng không xuôi."
"À, thằng ranh con này muốn làm anh hùng hả!" Tư Kèo nhổ toẹt nước miếng, vung nắm đấm to như cái dùi đục nhắm thẳng mặt Cường tống tới.
Đám đông rú lên. Nhưng cú đấm như trời giáng ấy lại đấm vào khoảng không. Cường chỉ khẽ nghiêng người, lách qua một bên gọn như con cá lách dòng nước. Tư Kèo trớn đà chúi tới trước, Cường thuận tay vỗ nhẹ vào lưng hắn một cái, hắn loạng choạng đâm sầm vào cái sạp gỗ, đổ cái rầm.
"Mẹ mày!" Tư Kèo gầm lên, đỏ mặt tía tai, rút trong lưng ra một con dao bấm, mở phách một cái, lưỡi dao loáng nắng. Hắn xông tới, đâm xốc một nhát hiểm hóc vào bụng Cường.
Đám đông nín thở. Bà Sáu Mắm hét lên thất thanh.
Nhưng Cường không lùi. Chàng xoay người, một tay gạt cổ tay cầm dao của hắn ra ngoài, một tay chộp lấy khuỷu tay hắn, dùng cái thế cầm nã thầy Tư Đỗ dạy thuở nào, bẻ ngoặt một cái. Tư Kèo rú lên đau đớn, con dao văng khỏi tay rơi xuống đất kêu leng keng. Chưa kịp định thần, Cường đã quét một cú đá thấp vào kheo chân hắn. Tư Kèo mất trụ, ngã chổng vó xuống vũng mắm tanh rình.
Tất cả diễn ra chỉ trong chớp mắt. Chàng không đấm vào mặt, không đạp vào ngực, không làm gãy xương kẻ kia. Chỉ vài đường võ ta gọn ghẽ, dứt khoát, hạ tên du côn vạm vỡ kia nằm sõng soài giữa chợ mà chẳng đổ một giọt máu nào.
Cường cúi xuống nhặt con dao bấm, gập lại, rồi quăng tõm xuống sông.
"Cậu Tư à," chàng nói, giọng vẫn nhẹ nhưng đanh, "đời này, kẻ mạnh hiếp kẻ yếu thì sớm muộn cũng có ngày gặp kẻ mạnh hơn. Cậu về đi, đừng làm khó bà già này nữa."
Tư Kèo lồm cồm bò dậy, người dính đầy mắm cá, mặt méo xệch vì nhục. Hắn chỉ tay vào mặt Cường, răng nghiến trèo trẹo: "Được... được lắm! Mày nhớ mặt tao! Cái đất Mỹ Tho này mày đừng hòng yên thân! Tao mà không kéo người tới bằm mày ra thì tao không phải là Tư Kèo!"
Nói rồi hắn cúp đuôi, vừa chửi rủa vừa lủi đi mất.
Đám đông vỡ òa. Có kẻ vỗ tay đôm đốp, có kẻ tấm tắc khen "thằng nhỏ giỏi võ quá", lại có người lo lắng kéo Cường lại, nói nhỏ: "Cậu coi chừng, phe thằng Kèo dữ lắm, cậu trốn đi cho rồi." Bà Sáu Mắm run rẩy nắm lấy tay Cường, nước mắt chảy ròng ròng:
"Con ơi... sao con dại vậy con. Con cứu bà thì bà mang ơn, mà bà sợ tụi nó hại con..."
"Bà đừng lo." Cường cười, đỡ bà ngồi xuống cái đòn, rồi cúi xuống phụ bà hốt lại mớ cá rau lấm lem. "Cây ngay không sợ chết đứng. Con quen với mấy thứ này rồi bà à."
*
Trong đám đông xôn xao ấy, dưới mái hiên chợ phía xa, người đàn ông trung niên có đôi mắt sắc lẹm vẫn đứng đó tự nãy giờ. Thầy Đội Khôi khoanh tay trước ngực, lặng lẽ ngắm gã trai trẻ vừa ra tay. Cái thân pháp lách đòn, cái thế cầm nã bẻ tay đoạt dao, cái cú quét chân — ông xem mà gật gù trong bụng. Thằng nhỏ này có căn cốt, có gân cốt trời cho, lại được người ta dạy bài bản đường võ ta. Sức vóc, gan dạ, lại còn cái khí nghĩa hiệp dám đứng ra che chở kẻ yếu — hiếm có.
Nhưng con mắt nhà nghề của ông cũng nhận ra ngay những chỗ non. Đường quyền của thằng nhỏ còn phí sức, cái thế tấn lúc xoay người hơi hổng, lực phát ra từ vai chứ chưa biết mượn lực từ eo từ hông. Nếu gặp kẻ thực sự cao cường, cái lối đánh ham đòn ấy sẽ để hở sườn mà chết. Võ ta của nó hay ở cái lì, cái nhanh, mà thiếu cái thuần, cái biến. Như viên ngọc thô chưa ai mài giũa.
"Thằng nhỏ này..." ông lẩm bẩm, vuốt chòm râu lốm đốm bạc. "Phải tay người biết dạy thì nên cơm cháo lắm."
Ông định bước tới, nhưng rồi lại dừng. Tiếng còi mã tà lại rúc lên đâu đó cuối chợ — có lẽ ai đó đã đi báo. Thầy Đội Khôi liếc nhìn thằng nhỏ lần cuối, khẽ mỉm cười, rồi quay gót lẫn vào dòng người tản chợ, lặng lẽ như khi đến. Duyên võ, có lẽ chưa phải lúc này. Cứ để thằng nhỏ tự bươn chải thêm ít lâu, xem cốt cách nó ra sao đã.
Cường ngẩng lên, mơ hồ cảm thấy có ánh mắt ai vừa rời khỏi mình. Chàng đảo mắt nhìn quanh đám đông, nhưng chỉ thấy bóng lưng một người đàn ông vạm vỡ khuất sau dãy bồ lúa. Cái cảm giác bị ai đó dõi theo lại trỗi dậy, vừa lành lạnh vừa khó tả. Là tay sai của Hương quản Tỏi đã lần ra tới đây chăng? Hay là người của phe Tư Kèo? Chàng siết nhẹ chuôi dao găm cán sừng giắt trong lưng, lòng cảnh giác.
Hai Cụt chạy lại, kéo tay chàng đi xềnh xệch ra khỏi đám đông: "Đi, đi lẹ! Mày ngon thì có ngon, mà ở đây lâu là mã tà nó hỏi giấy tờ đó. Mày có giấy thuế thân hông?"
Cường lắc đầu. Chàng làm gì có. Một kẻ trốn án thì lấy đâu ra giấy. Hai Cụt thở dài, lôi chàng lẩn vào con hẻm sau chợ.
*
Chiều tối, chợ đã vãn. Mặt trời lặn đỏ ối phía bên kia sông, nhuộm cả khúc sông Mỹ Tho thành một dải lụa hồng. Ghe thuyền lác đác thắp đèn dầu, ánh sáng vàng vọt lay động trên mặt nước. Gió sông thổi lên mát rượi, mang theo mùi bùn, mùi mắm và mùi khói bếp từ những căn nhà sàn ven bến.
Hai Cụt chỉ cho Cường chỗ ngủ tạm dưới mái hiên chợ — dãy mái lá lợp nhô ra trước dãy sạp, nơi đám phu khuân vác và dân nghèo không nhà cửa trải chiếu, trải bao bố ra nằm qua đêm. "Ngủ đây đỡ mưa gió, mà coi chừng móc túi nghen. Tao ở đầu kia, có gì kêu tao." Nói rồi anh ta đưa cho Cường nửa cái bánh tét nguội với một manh chiếu rách. Cái tình của người cùng khổ, đơn sơ mà ấm.
Cường tìm một góc khuất, trải chiếu ra nằm. Bà Sáu Mắm trước khi về đã dúi vào tay chàng một gói cơm với mấy con cá kho, dặn đi dặn lại phải coi chừng phe Tư Kèo, lại rưng rưng nói chừng nào con buồn cứ tới chỗ bà. Lòng chàng nặng trĩu một niềm biết ơn lẫn áy náy. Chàng đem cái nghĩa khí ra cứu người, mà cứ đi tới đâu là gieo họa cho người ta tới đó. Tư Kèo đã đe sẽ kéo người tới. Lỡ vì chàng mà bà Sáu bị chúng đốt sạp, đập phá thì sao?
Chàng nằm gối đầu lên cánh tay, nhìn ra khúc sông đêm. Trăng đã lên, vành trăng khuyết treo lơ lửng trên ngọn dừa nước, đổ bóng xuống dòng nước đen lấp lánh. Cái vành trăng này cũng là vành trăng từng soi xuống bờ kênh quê chàng, nơi Thị Sương ngồi hát khe khẽ câu "ầu ơ... ví dầu cầu ván đóng đinh". Bây giờ nàng đang ở đâu, có bình an không? Mẹ chàng có bị Hương quản Tỏi làm khó dễ không? Một mình bà nơi căn nhà lá xiêu vẹo, biết nương tựa vào ai?
Cường rút con dao găm cán sừng ra, lật qua lật lại trong tay. Lưỡi dao loáng ánh trăng, cái cán sừng đã mòn bóng vì tay cha, rồi tay chàng cầm nắm bao năm. "Cha ơi," chàng thì thầm, "con đi xa rồi. Con sẽ làm nên chuyện, sẽ về đón mẹ, đón Sương. Con hứa." Nói rồi cổ họng chàng nghẹn lại. Cái án mạng kia, cái thềm đá kia, cái tiếng "bịch" định mệnh kia — chàng có muốn đâu. Chàng chỉ muốn cứu Sương. Vậy mà cả đời này đã thành kẻ mang tội, thành kẻ trốn chạy không ngày trở về.
Đâu đó cuối bến, có tiếng đờn kìm văng vẳng, ai đó đang gảy một khúc Nam ai não nuột. Tiếng đờn buồn theo gió bay tới, len vào lòng kẻ tha hương, làm hai khóe mắt chàng cay xè. Cường nhắm mắt lại, cố dỗ giấc. Ngày mai trời lại sáng, chàng lại phải dậy vác gạo kiếm cơm, lại phải sống. Mà phải sống cho thật giỏi giang, thật vẻ vang, để cái ngày trở về quê hương không phải cúi đầu.
Trong cơn mơ màng, chàng đâu biết rằng cách đó không xa, trong một quán rượu tối tăm bên bến, Tư Kèo đang ngồi rót rượu cho một gã đàn ông lạ mặt, vừa kể tội thằng nhỏ giỏi võ vừa mới làm nhục mình giữa chợ, vừa hằm hè đòi rửa hận. Và cái tên "Phan Cường" — lần đầu tiên — bắt đầu được nhắc tới trong những góc khuất của giang hồ đất Mỹ Tho.